Dân quân tự vệ Việt Nam - 80 năm xây dựng, phát triển, chiến đấu và trưởng thành (28/3/1935-28/3/2015) PDF. In Email
Thứ hai, 09 Tháng 3 2015 15:47

          Trải qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam luôn phải đương đầu với giặc ngoại xâm để bảo vệ đất nước. Trong quá trình dựng nước và giữ nước đó, dân tộc ta đã tạo dựng nên truyền thống quý báu: “Ngụ binh ư nông”, “trăm họ đều là lính”, “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”, “động viên toàn dân, vũ trang toàn dân” để giết giặc cứu nước. Dân quân tự vệ (DQTV) là lực lượng vũ trang (LLVT) quần chúng không thoát ly sản xuất, công tác là bộ phận của LLVT đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quan tâm, điều hành của Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp, sự chỉ đạo, chỉ huy thống nhất của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và sự chỉ đạo, chỉ huy trực tiếp của cơ quan quân sự địa phương.

 

Kế thừa và phát huy truyền thống dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm của dân tộc; vận dụng đúng đắn sáng tạo nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể của nước ta, ngay từ khi mới ra đời Đảng ta đã đề ra chủ trương về “Vũ trang cho công nông” (Luận cương Chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương). Trong những năm 1930-1931, trong cả nước có rất nhiều cuộc bãi công, biểu tình liên tiếp nổ ra ở hầu khắp các địa phương, mà đỉnh cao là phong trào Xô Viết - Nghệ Tĩnh. Thời kỳ này, Đảng đã xác định lấy đấu tranh chính trị là chủ yếu; tuy nhiên Đảng ta cũng xác định một số vấn đề cơ bản về khởi nghĩa vũ trang, vũ trang bạo động; coi khởi nghĩa vũ trang là sự nghiệp của đông đảo quần chúng và để chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang phải lấy việc xây dựng lực lượng chính trị của quần chúng làm nền tảng. Do đó, trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 3 (tháng 3/1931). Đảng ta chủ trương khi giành được chính quyền thì thành lập “Quân đội công nông”.

Ngày 28/3/1935, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ nhất họp tại Ma Cao (Trung quốc) Đảng ta đã ra “Nghị quyết về đội tự vệ”. Đây là Nghị quyết đầu tiên của Đảng về tổ chức, chỉ đạo xây dựng, huấn luyện và hoạt động của lực lượng tự vệ. Nghị quyết về Đội tự vệ đã khẳng định “Tự vệ đội càng mạnh thì tức là có điều kiện thuận lợi để sau này tổ chức du kích chiến tranh và vũ trang bạo động”. Đây là một dấu ấn quan trọng mở ra một thời kỳ mới, là tư tưởng chỉ đạo chiến lược của Đảng xuyên suốt qua các giai đoạn cách mạng. Có thể nói Nghị quyết về Đội tự vệ là khởi đầu của tư tưởng vũ trang toàn dân và tư tưởng chiến tranh nhân dân với phong trào toàn dân đánh giặc.

Thực hiện "Nghị quyết về đội DQTV" của Đảng, các Đội tự vệ công nông mang tính chất là những tổ chức vũ trang quần chúng ra đời, đây là tiền thân của các Đội Cứu Quốc quân, Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân sau này. Trong những năm 1939-1940, phong trào cách mạng của quần chúng đã từ đấu tranh chính trị từng bước tiến lên đấu tranh vũ trang, kết hợp chặt chẽ đấu tranh chính trị với đấu tranh quân sự. Một số du kích ra đời, được duy trì và phát triển thành các trung đội Cứu quốc quân. Lực lượng tự vệ được khẩn trương xây dựng ở trên khắp các tỉnh, nhất là ở Bắc Bộ, Trung Bộ. Thời kỳ chuẩn bị Tổng khởi nghĩa giành chính quyền (1940-1945), đi đôi với chủ trương mở rộng và củng cố các đội tự vệ ở khắp các vùng nông thôn, thành thị, Đảng ta đã chủ trương thành lập các đội tự vệ cứu quốc, các tổ, tiểu đội du kích cứu quốc và các đội du kích chính thức. Các đội tự vệ đã trở thành tổ chức vũ trang quần chúng của các đoàn thể cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh, được xây dựng ở các căn cứ, địa phương có điều kiện; phối hợp với các đơn vị cứu quốc quân, Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân làm nòng cốt cho quần chúng thực hiện vũ trang khởi nghĩa từng phần, tiến hành chiến tranh du kích cục bộ, xây dựng và mở rộng các căn cứ địa Việt Bắc, Đông Bắc, Ninh Bình, Thanh Hóa, Ba Tơ,... đến tháng 8/1945 lực lượng DQTV đã phát triển lên tới vài chục nghìn người cùng với giải phóng quân và toàn dân thực hiện thắng lợi cuộc Tổng khởi nghĩa.

Ngày 02/9/1945, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời trong vòng vây của các thế lực đế quốc và phản động quốc tế. DQTV Việt Nam trở thành LLVT của Nhà nước, một trong ba thứ quân của LLVT nhân dân, một công cụ chủ yếu của chính quyền ở cơ sở. Từ phong trào quân sự hóa toàn dân, vũ trang toàn dân, tự vệ cứu quốc mà nòng cốt là tự vệ chiến đấu trong một thời gian ngắn được Mặt trận Việt Minh tổ chức rộng khắp ở các làng xã, đường phố trong cả nước. Lực lượng này đã thực sự là một công cụ chuyên chính chủ yếu bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền cách mạng còn non trẻ, bảo vệ thành quả cách mạng.

Ngày 23/9/1945, quân đội Pháp được quân Anh giúp sức nổ súng gây chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ 2. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ các địa phương ở miền Nam nhất là Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ, lực lượng DQTV đã phối hợp với bộ đội chủ lực anh dũng chiến đấu ngăn chặn địch, diệt ác, trừ gian, phá hoại đường giao thông... Ở miền Bắc, lực lượng DQTV phối hợp với công an nhân dân và Vệ quốc quân tham gia trừng trị bọn phản động nội địa, tích cực chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp, hưởng ứng Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/12/1946) lực lượng DQTV được nhanh chóng phát triển rộng khắp trong cả nước ngày càng lớn mạnh, là LLVT quần chúng do mặt trận chỉ đạo đã từng bước được thống nhất về tổ chức là một bộ phận trong LLVT nhân dân Việt Nam do các xã đội, huyện đội, tỉnh đội chỉ đạo, chỉ huy và đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của cấp uỷ Đảng các cấp. Đây là bước phát triển mới về chất lượng của lực lượng DQTV. Lực lượng DQTV đã cùng vệ quốc quân và các lực lượng chính trị tạo thành sức mạnh to lớn cho thế và lực của cách mạng.

Đến đầu năm 1947, lực lượng DQTV đã phát triển lên gần 3 triệu người, riêng Thủ đô Hà Nội có 6.000 đội viên. Ở chiến trường Nam Bộ, lực lượng dân quân du kích phát triển trên 27 vạn (nữ có 5,7 vạn); trong đó, du kích chiến đấu là 1,4 vạn. Ở chiến trường Trung Bộ, đến cuối năm 1949 phát triển 28,5 vạn dân quân du kích, 22.000 bạch đầu quân. Ở Bắc Bộ, dân quân du kích phát triển mạnh với hơn 27,9 vạn người với đủ các lứa tuổi, trai, gái. Phòng DQTV (nay là Cục DQTV) và hệ thống cơ quan DQTV từ quân khu đến các địa phương được thành lập để chỉ đạo xây dựng phong trào. Trong điều kiện hết sức khó khăn gian khổ, bằng các loại vũ khí thô sơ tự tạo và vũ khí lấy được của địch, phải đương đầu với quân đội viễn chinh Pháp được trang bị hiện đại, lực lượng DQTV và du kích đã cùng nhân dân xây dựng làng xã chiến đấu, dựa vào hệ thống này kiên cường bám đất, bám dân, tiêu hao lớn quân địch, phá tề, trừ gian; tích cực phối hợp với bộ đội địa phương chống địch càn quét, bao vây, bức hàng, bức rút nhiều đồn bốt địch, giải phóng làng xã, mở rộng các khu căn cứ du kích; thực hiện tích cực kiềm chế, căng kéo lực lượng địch, buộc địch phải phân tán đối phó, tạo điều kiện cho ta bảo vệ vùng tự do và góp phần cùng bộ đội chủ lực thực hiện nhiều chiến dịch lớn, đánh bại các biện pháp chiến lược của địch, giành thắng lợi trên các chiến dịch lớn.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, lực lượng DQTV và bộ đội địa phương đã tiêu diệt 23,1 vạn/50 vạn quân địch (chiếm tỷ lệ 46,4% tổng số lực lượng địch bị tiêu diệt) làm tan rã trên 20 vạn tên (chiến tỷ lệ 35%) và kiềm chế, phân tán trên 90% tổng số lực lượng trên toàn chiến trường, khiến Đại tướng NaVa phải thú nhận “Quân Pháp đông nhưng chỉ để được 10% lực lượng cơ động chiến lược”. Vì vậy, chiến công của lực lượng DQTV và bộ đội địa phương đã góp phần cùng bộ đội chủ lực giành thắng lợi quyết định trong chiến dịch Điện Biên Phủ “Lững lẫy năm  Châu, chấn động địa cầu” và giải phóng hoàn toàn miền Bắc năm 1954.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta giành thắng lợi đã chấm dứt hơn 80 năm đô hộ của chủ nghĩa thực dân. Lực lượng dân quân, du kích và tự vệ đã góp công sức và xương máu vô cùng to lớn vào chiến công của toàn dân tộc.

Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và chống Mỹ cứu nước đấu tranh giải phóng ở miền Nam, lực lượng DQTV ở miền Bắc đã tích cực tham gia cải cách ruộng đất, đánh đổ địa chủ, phong kiến, khôi phục và đẩy mạnh sản xuất, tham gia bắt gọn nhiều toán biệt kích Mỹ - Ngụy tung ra miền Bắc (nhất là những năm 1960-1963). Trong chống chiến tranh phá hoại miền Bắc chủ yếu bằng không quân, hải quân hiện đại của đế quốc Mỹ, lực lượng phòng không DQTV miền Bắc đã được tổ chức trên 700 phân đội, tăng cường trang bị nhiều loại vũ khí tương đối hiện đại như: Súng máy cao xạ 12,7mm; 14,5mm, 58 đại đội pháo cao xạ 37mm đến 100mm và 36 phân đội pháo binh các loại đánh tàu chiến địch... Lực lượng DQTV đã phối hợp với bộ đội, công an và nhân dân thực hiện “Tay cày tay súng, tay búa tay súng” chiến đấu liên tục ngày đêm. Cùng với mạng lưới bắn máy bay địch bay thấp bằng súng bộ binh hình thành lưới lửa tầm thấp dày đặc vô cùng lợi hại, DQTV đã phối hợp chặt chẽ với bộ đội phòng không, không quân bắn rơi nhiều máy bay địch. Riêng DQTV đã độc lập bắn rơi 424 máy bay các loại trong tổng số 4.181 máy bay Mỹ bị bắn rơi trên miền Bắc (chiếm 10%), bắt sống nhiều giặc lái, bắn chìm và bắn cháy nhiều tàu chiến địch.

Lực lượng DQTV còn làm tốt công tác phòng không nhân dân ở cơ sở, xây dựng nhiều công trình phòng tránh, khắc phục hậu quả đánh phá của địch, tiến hành rà bom mìn, thủy lôi, chống phong tỏa bằng đường biển... Đã có 183 triệu lượt người được huy động tham gia đảm bảo giao thông, phục vụ chiến đấu, phòng tránh sơ tán khắc phục hậu quả do địch gây ra, chi viện sức người sức của có hiệu quả cho chiến trường miền Nam. Những kinh nghiệm cực kỳ phong phú và sáng tạo trong xây dựng, hoạt động, chiến đấu của DQTV trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ đã đúc kết, rút kinh nghiệm để kịp thời áp dụng trong nhiệm vụ củng cố quốc phòng hiện nay.

Lực lượng dân quân du kích ở miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã tỏ rõ khả năng anh dũng phi thường, luôn chủ động đánh địch bằng mọi thứ vũ khí, vận dụng các hình thức đánh địch hết sức phong phú, sáng tạo trên khắp 3 vùng chiến lược; kết hợp chặt chẽ đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, 3 mũi giáp công (quân sự, chính trị, binh vận), hình thành thế trận chiến đấu, phát triển các căn cứ chiến đấu, vành đai du kích, vành đai diệt Mỹ... thực hiện bám trụ kiên cường, giữ thế xen kẽ, cài răng lược với địch. Đây là một phương thức tác chiến, một cách đánh độc đáo, sáng tạo của chiến tranh du kích Việt Nam. Lực lượng dân quân du kích đã phối hợp với nhân dân đấu tranh quyết liệt chống địch dồn dân lập “Khu trù mật”, lập “Ấp chiến lược”, độc lập và phối hợp với bộ đội địa phương và bộ đội chủ lực trong mọi hoạt động, góp phần đánh bại các chiến thuật “Trực thăng vận”, “Thiết xa vận” và các chiến lược chiến tranh của Mỹ - Ngụy như: “Bình định”, “Ấp chiến lược”, “Tát nước bắt cá”, “Chiến tranh đặc biệt”, “Chiến tranh cục bộ”, “Việt Nam hóa chiến tranh”... Mặc dù địch có phương tiện cơ động bằng máy bay và cơ giới, nhưng chúng vẫn phải phân tán tới 90% quân số để đối phó với LLVT địa phương ta; đó là một thắng lợi có ý nghĩa chiến lược cực kỳ quan trọng. Trong cuộc tổng tiến công mùa xuân 1975, lực lượng DQTV cùng bộ đội chủ lực và toàn dân miền Nam tiến công và nổi dậy đồng loạt; xã giải phóng xã, huyện giải phóng huyện, tỉnh giải phóng tỉnh “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” đã góp phần vô cùng quan trọng vào Đại thắng mùa xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn Miền Nam thống nhất đất nước. Về chiến tranh du kích ở miền Nam, một số nhà báo và chính giới Mỹ đã phải thừa nhận: “Cuộc chiến tranh du kích là một nghệ thuật mà Việt Cộng đã trở thành bậc thầy, những nghệ sĩ vĩ đại trong nghệ thuật đó” hoặc “Chúng ta phải đương đầu với quân du kích tài tình chưa từng thấy trong lịch sử loài người” (R. Rát-xét, Chủ tịch Ủy ban quân lực Thượng Nghị viện Mỹ).

Từ khi cả nước độc lập, thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội, lực lượng DQTV đã làm nòng cốt cho nhân dân ở cơ sở khắc phục hậu quả chiến tranh, tích cực rà phá, bóc gỡ bom mìn địch, giải phóng hàng triệu héc ta đất canh tác để nhân dân khôi phục sản xuất, tiếp tục truy quét tàn quân, bọn phản động của địch còn cài cắm lại. Lực lượng DQTV đã được huy động hàng triệu lượt người tham gia xây dựng tuyến phòng thủ biên giới, phối hợp và phục vụ bộ đội chiến đấu góp phần quan trọng vào thắng lợi của 2 cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc biên giới phía Bắc và biên giới Tây Nam, phối hợp với Công an nhân dân và các lực lượng khác thực hiện tốt việc bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước.

Quán triệt thực hiện đường lối đổi mới trong các Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc khoá VI, VII, VIII và các Nghị quyết của Đảng về quốc phòng - an ninh. Đặc biệt là ngày 29/9/1989, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 55/BBT và ngày 29/01/1990 Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 29/HĐBT về xây dựng lực lượng DQTV trong tình hình mới. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của cấp ủy, chính quyền các cấp, các địa phương, lực lượng DQTV trong cả nước có bước phát triển mới cả về chất lượng, số lượng, biên chế trang bị. Tổ chức, biên chế tinh gọn hơn, chất lượng tổng hợp của DQTV được nâng cao, từng bước đổi mới nội dung huấn luyện và phương thức hoạt động. Chất lượng về chính trị từng bước được nâng lên, việc xây dựng DQTV ngày nay càng được gắn chặt với xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện, xây dựng khu vực phòng thủ trong các vùng trọng điểm, xung yếu như: đồng bào dân tộc, tôn giáo, trên các địa bàn biên giới, biển đảo, đô thị và việc củng cố dân quân binh chủng, tự vệ chuyên ngành. Lực lượng DQTV ở nhiều địa phương đã chuyển hướng mạnh mẽ vào nhiệm vụ chiến đấu trị an ở cơ sở, góp phần tích cực cùng quân, dân cả nước làm thất bại âm mưu “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, bảo vệ chế độ XHCN, giữ vững ổn định chính trị, củng cố tăng cường quốc phòng - an ninh trên phạm vi cả nước cũng như ở mỗi địa phương. Lực lượng DQTV đã thực sự là công cụ chủ yếu bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ nhân dân ở cơ sở.

Quán triệt các quan điểm, đường lối chỉ đạo của Đảng về xây dựng LLVT quần chúng trong tình hình mới, DQTV được rà soát, củng cố nâng cao chất lượng, trước hết là chất lượng chính trị ở cơ sở. Xuất phát từ thực tiễn, dưới sự chỉ đạo của Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu, lực lượng DQTV đã bắt đầu nghiên cứu tổ chức và xây dựng theo hướng sẵn sàng đương đầu với cuộc chiến tranh hiện đại có sử dụng vũ khí công nghệ cao của địch, lực lượng DQTV được giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự theo phương châm: “Cơ bản, thiết thực, chất lượng”.

Quán triệt các Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc về tăng cường quốc phòng và an ninh, Nghị quyết Hội nghị BCH Trung ương Đảng lần thứ 8 (khoá IX) về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Chỉ thị số 16/CT-TW của Ban Bí thư Trung ương về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng DQTV và lực lượng DBĐV trong tình hình mới, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh DQTV năm 1996, Pháp lệnh DQTV năm 2004, đặc biệt ngày 23/11/2009 Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam thông qua và ban hành Luật DQTV. Đây là văn bản có tính pháp lý cao nhất của Nhà nước nhằm tiếp tục tăng cường chỉ đạo xây dựng lực lượng DQTV vững mạnh toàn diện cả về tổ chức, huấn luyện, hoạt động và công tác bảo đảm theo chức năng, nhiệm vụ chặt chẽ, thống nhất với cơ chế Đảng lãnh đạo, chính quyền điều hành, cơ quan quân sự làm tham mưu. Lực lượng DQTV ngày càng được củng cố, huấn luyện hoạt động có hiệu quả lớn, phát huy tốt vai trò là một trong những lực lượng nòng cốt trong lao động sản xuất, bảo vệ sản xuất, phòng chống khắc phục hậu quả, thiên tai, địch hoạ và phối hợp cừng với các lực lượng khác góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở các địa phương cơ sở.

Có thể nói những văn bản trên là bước cụ thể hoá đồng bộ nhất, có ý nghĩa hết sức quan trọng đáp ứng kịp thời yêu cầu về nhiệm vụ xây dựng lực lượng DQTV trong thời kỳ đổi mới, thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước, đồng thời ngày càng khẳng định rõ vị trí, vai trò chiến lược của lực lượng DQTV để góp phần tăng cường tiềm lực quốc phòng, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Trải qua 80 năm xây dựng, phát triển, chiến đấu và trưởng thành dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, lực lượng DQTV là LLVT quần chúng, sinh ra và lớn lên trong phong trào cách mạng của nhân dân, gắn bó mật thiết với quê hương, làng bản, với từng căn nhà, đường phố, công, nông lâm trường, nhà máy, xí nghiệp. Sống, chiến đấu trong lòng dân, được nhân dân yêu thương, đùm bọc. Trong suốt 80 năm vượt qua đầy khó khăn, gian khổ, thử thách, hy sinh, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ DQTV đã hết lòng trung thành với Tổ quốc, với nhân dân, với sự nghiệp cách mạng của Đảng, chiến đấu kiên cường, mưu trí, dũng cảm lao động học tập, công tác hiệu quả, sáng tạo và đã lập nhiều chiến công to lớn; góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân và các LLVT nhân dân giành những thắng lợi lịch sử Cách mạng tháng Tám năm 1945, trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc thống nhất đất nước, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt nam XHCN và sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước. 

Qua những năm tháng chiến đấu, công tác, lực lượng DQTV Việt Nam đã lập được nhiều thành tích vẻ vang. Trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng của nhân dân ta, DQTV đã tỏ rõ rất mực trung thành với dân tộc, với nhân dân, lập nên nhiều chiến công to lớn, góp phần xứng đáng vào thắng lợi vẻ vang của hai cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc. Vị trí, vai trò quan trọng chiến lược của lực lượng DQTV trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta thể hiện ở chỗ: Là hình thức tổ chức thích hợp nhất để thực hiện vũ trang toàn dân, toàn dân đánh giặc giữ nước; đánh địch ở mọi lúc, mọi nơi, để tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch. DQTV giữ vai trò chiến lược trong phát động chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân địa phương, làm chuyển biến so sánh lực lượng giữa ta và địch, tiến lên giành thắng lợi cuối cùng. Dân quân, du kích, tự vệ có nhiệm vụ nặng nề trong xây dựng và bảo vệ địa phương, là lực lượng nòng cốt bổ sung và phục vụ đắc lực cho yêu cầu chiến đấu của bộ đội chủ lực. 

Để ghi nhận những công lao và thành tích của lực lượng DQTV qua các thời kỳ đã có 366 tập thể và 275 cá nhân được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng LLVT nhân dân” trong đó có những tập thể tiêu biểu như: Đại đội nữ dân quân Ngư Thủy - Lệ Thủy - Quảng Bình, Đại đội nữ dân quân Tiền Hải - Thái Bình, Trung đội lão dân quân Hoằng Hóa - Thanh Hóa, dân quân du kích huyện Củ Chi - Thành phố Hồ Chí Minh, huyện Giồng Trôm - Mỏ Cày - Bến Tre,... và hàng ngàn, hàng vạn tấm gương anh hùng tiêu biểu khác đã góp phần tô thắm thêm những trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam - dân tộc anh hùng. 

* Truyền thống lực lượng Dân quân tự vệ Thủ đô:

Dưới sự lãnh đạo của Thành ủy và Ủy ban kháng chiến, lực lượng DQTV Thủ đô đã sớm được thành lập, từng bước xây dựng, phát triển, chiến đấu, trưởng thành và lập nhiều chiến công oanh liệt trong các thời kỳ cách mạng. Từ các đoàn viên cứu quốc ưu tú được lựa chọn vào các đội thanh niên cứu quốc, tự vệ Thành, đội danh dự Việt Minh,… lực lượng dân quân, tự vệ, du kích phát triển nhanh chóng tham gia bảo vệ các cuộc mít tinh, biểu tình của quần chúng cách mạng, bảo vệ các cơ quan lãnh đạo của Đảng, tiêu diệt những tên mật thám nguy hiểm ngay trên đường phố, là lực lượng xung kích trong tiến công đánh chiếm các trung tâm hành chính của chính quyền tay sai, giành chính quyền về tay cách mạng ở Thủ đô, đón Trung ương, Bác Hồ từ chiến khu trở về.

Trong kháng chiến chống Pháp, hưởng ứng lời kêu gọi của Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”, dân quân, tự vệ, du kích Thủ đô với khí thế anh hùng và truyền thống lịch sử ngàn năm Thăng Long - Hà Nội đã nhanh chóng biến Thủ đô Hà Nội thành một thế trận vững chắc, xây dựng ụ súng chiến đấu, biến mỗi căn nhà, mội đường phố thành một trận địa vững chắc, các cửa ô thành điểm tựa, dùng mọi loại vũ khí, phương tiện hiện có để đánh giặc. Tiêu biểu là các trận đánh sân bay Bạch Mai, sân bay Gia Lâm, chợ Đồng Xuân, các trận đánh trên các đường phố Bạch Mai, phố Huế, Mai Hắc Đế… lực lượng DQTV cùng với nhân dân xây dựng chiến lũy ngăn chặn không cho địch lấn ra ngoài vùng ngoại ô bảo toàn lực lượng, xây dựng lực lượng cơ sở để chuẩn bị cho các cuộc chiến đấu trong lòng địch. Tiêu biểu 60 ngày đêm chúng ta đã giành giật với địch từng căn nhà, cầu thang, góc phố. Quân và dân Hà Nội đã đánh trên 200 trận, diệt hàng ngàn tên địch, vây chặt quân thù, đẩy chúng vào thế bị động, làm thất bại mọi chiến lược đánh nhanh thắng nhanh của thực dân Pháp. Thực hiện cuộc rút quân thần kỳ khỏi vòng vây ở Liên khu I, bảo toàn lực lượng để kháng chiến lâu dài. Một bộ phận ở lại bám đất, bám dân, diệt tề, trừ gian, chống càn, xây dựng cơ sở nội ngoại thành, được Bác Hồ gửi thư khen ngợi “Các em quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.

Trong thời kỳ này, lực lượng dân quân, tự vệ, du kích Từ Liêm đã phối hợp với Vệ quốc đoàn tổ chức đánh nhiều trận đạt hiệu suất chiến đấu cao. Trong các năm 1947, 1948, 1949 huyện Từ Liêm thành lập nhiều tuyến bảo vệ và xây dựng các đại đội bộ đội địa phương và dân quân, tự vệ, du kích, ngày đêm kiên cường bám đất, bám dân xây dựng cơ sở kháng chiến, phát triển chiến tranh du kích đánh tiêu hao, tiêu diệt lực lượng, phương tiện chiến tranh của địch, tạo điều kiện cho các mặt trận khác mở các đợt tiến công quan trọng tiêu diệt địch, tạo thế và lực cho quân và dân cả nước tiến công địch mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ đánh đổ chế độ thực dân cũ, giải phóng hoàn toàn miền Bắc.

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Từ Liêm có: 1.311 liệt sĩ; 119 thương binh và hàng trăm bệnh binh; 72 gia đình cách mạng được Nhà nước công nhận là “Gia đình có công với nước”. Có 13.000 thanh niên (trong đó có dân quân, tự vệ, du kích) tham gia vào quân đội trực tiếp chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Thủ đô Hà Nội là trọng điểm đánh phá của không quân Mỹ, hàng ngàn tổ đội DQTV “Tay cày, tay súng, tay búa, tay súng” vừa sản xuất, vừa chiến đấu được tổ chức ở hầu hết các xã, phường, thị trấn, cơ quan, nhà máy, xí nghiệp. Trận địa phòng không, súng máy 12,7mm, 14,5mm và tổ bộ binh bắn máy bay được bố trí trên nóc nhà cao tầng, những địa bàn có giá trị đánh trả có hiệu quả chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ. Lực lượng DQTV đã chiến đấu dũng cảm, mưu trí bắn rơi 8 máy bay, bắt sống nhiều giặc lái, tiêu biểu là trung đội dân quân súng máy phòng không xã Mễ Trì (phường Mễ Trì, quận Bắc Từ Liêm hiện nay) đã bắn rơi tại chỗ 01 máy bay F4 của địch; trung đội súng máy phòng không 12,7mm của dân quân xã Trâu Quỳ, huyện Gia Lâm đã bắn rơi tại chỗ 01 máy bay F105; đại đội tự vệ Liên Cơ bắn rơi tại chỗ 01 máy bay F11A - cánh cụp cánh xòe; tự vệ Nhà máy dệt 8-3 bắn rơi 01 máy bay trinh sát không người lái của địch bằng 14 viên đạn; tự vệ Nhà máy điện Yên Phụ vừa đánh trả máy bay địch vừa giữ cho dòng điện liên tục thắp sáng; tự vệ Kho xăng dầu Đức Giang vừa chiến đấu vừa chống cháy nổ, bảo vệ kho xăng dầu, bảo đảm xăng dầu cho nhiệm vụ phát triển kinh tế, quốc phòng, an ninh; tự vệ Bưu điện Hà Nội bảo đảm thông suốt thông tin liên lạc cho Trung ương Đảng, Chính phủ và Thủ đô Hà Nội phục vụ cho sản xuất và chiến đấu.

Trong 12 ngày đêm cuối tháng 12 năm 1972, quân và dân Hà Nội cùng với lực lượng phòng không, không quân đã đạp tan cuộc tập kích đường không chiến lược bằng máy bay B52 của đế quốc Mỹ vào Thủ đô Hà Nội, bắn rơi 30 máy bay trong đó có 23 máy bay chiến lược B52, lập nên chiến công “Điện Biên Phủ trên không” buộc đế quốc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán và ký hiệp định Pari, tạo thế và lực cho quân và dân miền Nam tiến công giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước, mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử làm nên đại thắng mùa xuân năm 1975.

Ngoài nhiệm vụ chiến đấu, DQTV Thủ đô đã tham gia hàng triệu ngày công giúp bộ đội xây dựng các trận địa pháo phòng không, trận địa tên lửa, tiếp lương, tải đạn, cứu thương, cứu sập, khắc phục hậu quả do bom Mỹ gây ra. DQTV đã kiên trì bám trụ chiến đấu và sản xuất, nhiều khu vực trọng điểm được tổ chức các phân đội DQTV trực chiến thường xuyên liên tục như tự vệ Nhà máy điện Yên Phụ, Nhà máy dệt 8-3, Nhà máy phân lân Văn Điển… nhiều phong trào thi đua làm ca đêm, thêm giờ, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật hoàn thành kế hoạch chi viện cho miền Nam thân yêu… Hàng vạn cán bộ, chiến sĩ DQTV Thủ đô đã hăng hái tình nguyện nhập ngũ vào các đơn vị quân đội đi khắp các chiến trường góp phần cùng với quân và dân cả nước giải phóng miền nam thống nhất đất nước. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Từ Liêm luôn hướng về miền Nam ruột thịt, đã động viên sức người, sức của chi viện cho miền nam đánh bại đế quốc Mỹ. Để bảo vệ cửa ngõ phía Tây của Thủ đô Hà Nội, Từ Liêm đã xây dựng lực lượng DQTV vững mạnh với hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ DQTV đi đầu, xung kích trong lao động, sản xuất. Thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng thành công CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN, nhiều thanh niên đã tình nguyện lên đường nhập ngũ. Quân và dân Từ Liêm đã thực hiện xuất sắc phương châm “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”.

Trong kháng chiến chống Mỹ, Từ Liêm có: 2.213 liệt sĩ; 667 thương binh. Tiểu đoàn Từ Liêm đã được tặng danh hiệu “Từ Liêm anh hùng quyết thắng”. Từ Liêm có 250 dũng sĩ diệt Mỹ, 312 chiến sĩ thi đua và hàng ngàn cá nhân được tặng huân chương, huy chương.

Với những kết quả đặc biệt xuất sắc, ngày 04/01/2002 nhân dân và LLVT Từ Liêm đã vinh dự được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu “Đơn vị anh hùng LLVT nhân dân” và 8/16 xã, thị trấn được phong tặng danh hiệu “Đơn vị anh hùng LLVT nhân dân”. LLVT Từ Liêm được Nhà nước tặng: 01 huân chương chiến công hạng Ba (1973); 01 huân chương chiến công hạng Nhì (1987).

Sau khi đất nước được độc lập, thống nhất, cả nước đi lên CNXH, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, lực lượng DQTV cả nước nói chung, lực lượng DQTV Thủ đô nói riêng đã có bước phát triển mới cả về số lượng và chất lượng: tổ chức biên chế gọn hơn, chất lượng DQTV được nâng lên rõ rệt. Công tác huấn luyện ngày càng được đổi mới cả về nội dung, chương trình, thời gian và phương pháp huấn luyện. Các đối tượng được huấn luyện đúng theo chương trình cơ bản, sát với yêu cầu nhiệm vụ của từng lực lượng: lực lượng chiến đấu cơ động, lực lượng chiến đấu tại chỗ, lực lượng chiến đấu binh chủng. Cán bộ, chiến sĩ DQTV Thủ đô đã đạt nhiều thành tích cao trong huấn luyện, hội thao quân sự và giành nhiều thành tích cao trong các đại hội thể dục thể thao quốc phòng toàn quân. Hoạt động của lực lượng DQTV đã có nhiều chuyển biến mạnh mẽ như nhiệm vụ chiến đấu trị an, đã phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể, lực lượng công an, dân phòng trong việc giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Lực lượng DQTV thực sự là chỗ dựa vững chắc để bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân. Nhiều địa phương cơ sở DQTV và công an, dân phòng thực sự là nòng cốt trong phong trào an ninh nhân dân, phòng chống tội phạm, trong giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội các ngày lễ, tết, đón các đoàn khách quốc tế, các hội nghị, các sự kiện chính trị của Đảng, Nhà nước diễn ra trên địa bàn Thủ đô. Ngoài ra, lực lượng DQTV Thủ đô còn là lực lượng xung kích trong lao động sản xuất, nghiên cứu khoa học, phòng chống thiên tai, lũ lụt. Nhiều cán bộ, chiến sĩ DQTV là những giám đốc, quản đốc, những công nhân, nông dân giỏi trên mặt trận lao động sản xuất, nghiên cứu khoa học, phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô. Nhìn chung, hoạt động của lực lượng DQTV ngày càng có hiệu quả thiết thực, tạo được lòng tin của cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương cũng như chính quyền các cấp, các ban ngành, đoàn thể và các đơn vị kinh tế.

* Trách nhiệm của lực lượng DQTV Thủ đô:

Ngày nay, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động đã và đang đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ và răn đe quân sự, chúng sử dụng các biện pháp thâm độc chống phá ta trên tất cả các lĩnh vực chính trị, văn hóa, kinh tế, khoa học kỹ thuật, quốc phòng an ninh, tìm mọi cách khoét sâu vào mâu thuẫn nội bộ, kích động chia rẽ dân tộc, tôn giáo… Tình hình trên cũng với mặt trái của cơ chế thị trường sẽ có những tác động trực tiếp đến quá trình củng cố, xây dựng và nâng cao chất lượng của lực lượng DQTV nói cung và lực lượng DQTV Thủ đô nói riêng.

Vì vậy, chúng ta cần nắm vững và thực hiện tốt những nhiệm vụ sau đây:

Một là, cần quán triệt sâu sắc nội dung Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ quân đội lần thứ IX, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố Hà Nội lần thứ XV… và Nghị quyết của Đảng ủy quân sự quận. Tập trung vào nhiệm vụ thường xuyên sẵn sàng chiến đấu, chủ động đối phó với chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, can thiệp quân sự của địch, nâng cao năng lực làm tham mưu cho cấp ủy, chính quyền về nhiệm vụ quốc phòng, công tác quân sự địa phương, nâng cao chất lượng tổng hợp của LLVT quận, trước hết là chất lượng chính trị, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện gắn với xây dựng tổ chức cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh.

Hai là, xây dựng lực lượng DQTV vững mạnh, rộng khắp, có chất lượng tổng hợp ngày càng cao, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tinh thân yêu nước, yêu chế độ XHCN, trung thành với đường lối đổi mới của Đảng và lợi ích của dân tộc. Xây dựng đội ngũ cán bộ, chiến sĩ DQTV vững mạnh, có trình độ, năng lực toàn diện, đặc biệt về nghiệp vụ công tác quân sự địa phương và công tác tuyên truyền, vận động quần chúng ở cơ sở.

Ba là, xây dựng lực lượng DQTV phải gắn với xây dựng địa bàn vững mạnh toàn diện, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, đủ khả năng hoàn thành nhiệm vụ trong mọi tình huống. Trước mắt, phối hợp chặt chẽ với các LLVT cùng toàn dân đánh bại âm mưu “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ và răn đe quân sự của địch, góp phần giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Bốn là, các Ban chỉ huy quân sự cơ sở làm tốt công tác tham mưu cho cấp ủy Đảng, chính quyền tổ chức chỉ đạo thực hiện tốt nhiệm vụ quân sự, nhiệm vụ quốc phòng nói chung và xây dựng lực lượng DQTV nói riêng. Hoàn thành tốt chương trình, nội dung huấn luyện và làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu theo mệnh lệnh của các cấp đạt hiệu quả cao.

Kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống của lực lượng DQTV, là dịp để chúng ta ôn lại lịch sử, truyền thống vẻ vang của dân tộc, bản chất, truyền thống tốt đẹp, những chiến công oanh liệt của lực lượng DQTV. Qua đó, khơi dậy niềm tự hào, tự tôn dân tộc, nâng cao lòng yêu nước, yêu CNXH, ý chí quật cường, ý thức tự lực, tự cường vượt qua mọi khó khăn thử thách; ra sức xây dựng lực lượng DQTV ngày cang vững mạnh, xứng đáng với lời dạy của Bác Hồ: “Dân quân tự vệ và du kích là lực lượng của toàn dân tộc, là một lực lượng vô địch, là bức tường sắt của Tổ quốc, vô luận kẻ địch hung bạo thế nào hễ đụng vào lực lượng đó, bức tường đó, thì địch nào cũng phải tan rã”./.

Phạm Công Tú - Ban chỉ huy quân sự Trường